Lập chiến lược nhân sự phù hợp với chiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, nhìn nhận từ kinh nghiệm thực tế (kỳ I)

1.    Chiến lược kinh doanh

Ngày nay, chiến lược kinh doanh được đề cập và được bàn đến rất nhiều trên các diễn đàn về kinh tế, quản trị, các hội thảo và thậm chí các khóa học về quản trị chiến lược đang rất phổ biến và thịnh hành. Vậy, chiến lược kinh doanh là gì? Tại sao nó có ý nghĩa quan trọng và được quan tâm nhiều như vậy trong xã hội hiện đại ngày nay?

Theo định nghĩa của Alfred Chandle năm 1962, “chiến lược bao hàm việc thiết lập các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn các cách thức, chương trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. (Nguồn OCD).

Theo định nghĩa của Michael Porter, “chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là sự lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. (Nguồn Micheal Porter, Chiến lược Marketing)

Với các định nghĩa như trên, với thế giới phẳng và xã hội rộng mở hiện nay, việc có một chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp mình là điều cần thiết thậm chí mang tính chất quyết định sống còn của doanh nghiệp.
 
Một chiến lược kinh doanh có những nội dung cơ bản hay đặc trưng gì?

Dù định nghĩa hay hiểu theo cách nào, trọng tâm của việc hoạch định chiến lược kinh doanh vẫn là: xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, đưa ra các chương trình hành động tổng quát, lựa chọn chiến thuật để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Nội dung cơ bản và các đặc trưng của việc hoạch định chiến lược không nằm ngoài những hạng mục này. Một bản chiến lược kinh doanh phải thể hiện đầy đủ những phân tích môi trường cạnh tranh, nội bộ, đối thủ, nhà cung cấp để đề xuất một chiến lược cạnh tranh phù hợp từng giai đoạn giúp đạt được mục tiêu đề ra của mình.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chia sẻ việc xác lập, xây dựng, hiểu và phổ biến chiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam với quy mô lớn (công ty đa quốc gia, tập đoàn: LG, Samsung, Microsoft, Nokia, Ericsson, etc). Các doanh nghiệp mà tác giả đề cập trong bài viết này đều có lịch sử hàng chục thậm chí hàng trăm năm tuổi. Tất cả đều có hoạt động sản xuất và kinh doanh trên nhiều quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam.

Tại các công ty đa quốc gia này, hệ thống chiến lược về sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị cốt đã hình thành và có sẵn từ công ty mẹ (Head quarter). Hệ thống và các giá trị này liên tục được khẳng định, phổ biến, cải tiến và phát triển phù hợp với xu thế thời đại và sự phát triển của xã hội, nhu cầu sản phẩm và nhu cầu cạnh tranh của doanh nghiệp. Công tác hoạch định chiến lược được thực hiện ở cấp quản trị tối cao tại hội sở. Các công ty tại Việt Nam chỉ thực hiện và triển khai chiến lược đó và phản hồi lại những thực tế, bất cập trong việc chiển khai chiến lược tại thị trường Việt Nam, từ đó đề xuất những điều chỉnh phù hợp với nước sở tại để đạt mục tiêu chiến lược chung của tập đoàn.

Việc truyền thông chiến lược tới từng cấp cán bộ nhân viên và quản lý các chương trình sáng kiến, sáng tạo để phát triển hiệu quả hoạt động luôn được coi trọng và đề cao ở những doanh nghiệp này. Các cán bộ nhân viên từ các cấp quản lý tới các cấp nhân viên dù ít hay nhiều đều hiểu mục tiêu, sứ mệnh của doanh nghiệp mình và chí ít, tại vị trí của mình cần phải có hành động cụ thể gì để thực hiện triển khai công việc hiệu quả và hòa mình vào dòng chảy của doanh nghiệp.    

Các kênh truyền thông hiệu quả mà các doanh nghiệp này hay sử dụng không chỉ qua các trang website, bản tin của công ty mà còn được tổ chức liên tục, bài bản chuyên nghiệp lồng ghép trong các buổi đào tạo, buổi nói chuyện chuyên khảo giữa ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên, các chương trình teambuilding, phương thức trực tiếp từ các cấp quản lý xuống các cấp dưới (top-down).   

Để triển khai chiến lược kinh doanh một cách đồng bộ, các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp: kinh doanh, marketing, nhân sự, sản xuất, kế toán, tài chính, v.v cần có kế hoạch triển khai chi tiết phù hợp với chiến lược kinh doanh đã thống nhất như các bánh xe cùng chuyển động một hướng với đầu tàu để con tàu đi theo hướng đã định sẵn của người lái tàu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập tiếp tới việc triển khai và kết nối của bộ phận chức năng: quản trị nguồn nhân lực trong chuỗi thực hiện chiến lược kinh doanh của công ty.

Xem tiếp kỳ II: http://ocd.vn/tin-tuc/tri-thuc-quan-ly/1358-lap-chien-luoc-nhan-su-phu-hop-voi-chien-luoc-kinh-doanh-tai-cac-doanh-nghiep-fdi-tai-viet-nam-nhin-nhan-tu-kinh-nghiem-thuc-te-ky-ii.html

ThS. Đỗ Thị Yến
Bài viết trích từ Kỷ yếu Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực từ chiến lược phát triển kinh doanh
do Hiệp hội Nhân sự (HRA) xuất bản

Chia sẻ
Bạn đang ở: OCD Tin tức Tri thức quản lý Lập chiến lược nhân sự phù hợp với chiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, nhìn nhận từ kinh nghiệm thực tế (kỳ I)

Kết nối với OCD

Liên hệ với OCD

  • 024 3553 7799
  • 096 363 6066
  • ocd@ocd.vn

 
Công ty Tư vấn Quản lý OCD
Trụ sở HN: Tầng 18, Tòa nhà Viwaseen, 48 Tố Hữu, Nam Từ Liêm, Hà nội
Tel: 024 3553 7799      Fax: 024 3553 7797
Văn phòng HCM: B0609, Tòa B, The Gold View, 346 Bến Vân Đồn, Quận 4, HCMC
Tel: 028 3925 3985 | 0906655010
 
CÔNG TY TƯ VẤN QUẢN LÝ OCD - Số ĐKKD  0101362912   do Sở KHĐT TP. Hà Nội  cấp ngày 23/05/2003